Các monome siêu dẻo polycarboxylate ban đầu là các sản phẩm gốc este, với metyl polyetylen glycol ete (MPEG) làm chất tạo mạch chính, như thể hiện trong Hình 2. Khi tổng hợp các chất siêu dẻo polycarboxylate sử dụng các chất tạo mạch chính như vậy, cần thực hiện hai bước phản ứng—este hóa và trùng hợp—làm cho quá trình tương đối phức tạp. Hiện nay, chúng đã dần được thay thế bằng các chất tạo mạch chính gốc ete.
Các macromonomer gốc ete có khả năng khử nước hiện đang là sản phẩm macromonomer chủ đạo. Các macromonomer này chủ yếu được tổng hợp bằng phản ứng ethoxyl hóa các chất khơi mào rượu không bão hòa phân tử nhỏ với cấu trúc khác nhau, tạo ra các ete polyetylen glycol có liên kết đôi ở đầu mạch. Tùy thuộc vào cấu trúc phân tử của chất khơi mào, các macromonomer tổng hợp có thể được phân loại thành ba loại: macromonomer gốc rượu vinyl 3 carbon (ete polyetylen glycol allyl - APEG), macromonomer gốc rượu vinyl 4 và 5 carbon (ete polyetylen glycol isobutyl - HPEG, ete polyetylen glycol isopentyl - TPEG), và macromonomer gốc ete vinyl 2+2 và 2+4 (EPEG, VPEG).

Dựa trên các nghiên cứu hiện có, nhóm nghiên cứu của tác giả đã phát triển một loại monome siêu dẻo polycarboxylate gốc etylen ete mới: etylen glycol monovinyl polyetylen glycol ete (EPEG, monome 2+2).
Bằng cách so sánh mật độ đám mây electron và sự cản trở không gian của cấu trúc liên kết đôi không bão hòa trong các phân tử monome khác nhau, người ta đã xác định được hoạt tính trùng hợp cao hay thấp của các liên kết đôi không bão hòa trong các monome khác nhau.
Do cấu trúc thay thế đơn của liên kết đôi trong phân tử, sức cản không gian của sự dao động chuỗi bên polyete được giảm thiểu hơn nữa, làm cho sự dao động của chuỗi bên polyete tự do hơn và phạm vi hoạt động rộng hơn; Sự gia tăng mức độ tự do của sự dao động chuỗi bên polyete cải thiện khả năng bao bọc và vướng mắc của chuỗi bên polyete, dẫn đến chất siêu dẻo polycarboxylate có khả năng thích ứng cao hơn, đặc biệt là trong các trường hợp chất lượng cát sỏi kém và hàm lượng bùn cao.











